Tiểu thuyết Tắt đèn của Ngô Tất Tố đăng lần đầu trên báo Việt nữ từ năm 1937, sau đó được in thành sách và gần như ngay lập tức nhận được sự ủng hộ nồng nhiệt từ công chúng.Tại thời điểm mà các sáng tác về đề tài nông thôn vẫn còn vắng vẻ, đìu hiu, chẳng đáng kể gì cho lắm thì sự ra đời của tác phẩm Tắt đèn đã được Vũ Trọng Phụng ví như “kiệt tác, tòng lai chưa từng thấy”.
Với lợi thế am hiểu thôn quê và xã hội cổ truyền của mình, qua Tắt đèn, Ngô Tất Tố đã tái dựng một cách sinh động về đời sống nông thôn Việt Nam lúc bấy giờ, một đời sống ngột ngạt cùng quẫn tăm tối bởi nạn “sưu cao thuế nặng” mà đối tượng trung tâm là những người nông dân thấp cổ bé họng. Điều giúp cho Tắt đèn ghi dấu sâu sắc trong lòng lớp lớp độc giả chính là tấm lòng cảm thông, trân quý những kiếp người bé mọn trước cảnh bị dồn vào đường cùng của tác giả. Ấn bản này được thực hiện theo ấn bản Tắt đèn của Mai Lĩnh xuất bản, in năm 1939, chỉ sửa một số cách viết cho phù hợp với quy tắc chính tả hiện nay, ví dụ “dây cót” thay cho “giây cót”, “giận dữ” thay cho “dận dữ”…
Thông tin tác giả
Nhà văn NGÔ TẤT TỐ (1893-1954) sinh tại làng Lộc Hà, tổng Hội Phụ, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (nay là Lộc Hà, xã Đông Anh, thành phố Hà Nội), mất tại Yên Thế, Bắc Giang (nay là thị trấn Phồn Xương, tỉnh Bắc Ninh). Ông thường xuyên có mặt trên các báo: An Nam tạp chí, Đông Pháp thời báo, Thần chung, Phổ thông, Đông Phương, Công dân, Hải Phòng tuần báo, Hà Nội tân văn, Thực nghiệp, Tương lai, Thời vụ, Con ong, Việt nữ, Tiểu thuyết thứ ba,… với nhiều bút danh: Lộc Hà, Phó Chi, Thôn Dân, Khẩu Khiết Nhi, Xứ Tố, Lộc Đình, Thục Điểu, Tuệ Nhỡn, Đạm Hiên, Thuyết Hải, Xuân Trào, Hy Cừ… Ông từng đảm nhiệm cương vị Chi hội trưởng Chi hội Văn nghệ Việt Bắc, Ủy viên Ban chấp hành Hội Văn nghệ Việt Nam khóa I...
Giải thưởng:
- Giải ba về dịch thuật (tác phẩm Trời hửng, Trước lửa chiến đấu), giải thưởng Văn nghệ 1951-1952 của Hội Văn nghệ Việt Nam.
- Giải khuyến khích (vở chèo Nữ chiến sĩ Bùi Thị Phác) giải thưởng Văn nghệ 1951-1952 của Hội Văn nghệ Việt Nam.
- Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật đợt I, năm 1996.
Các tác phẩm chính:
- TIỂU THUYẾT: Trong rừng Nho (1937), Tắt đèn (1937).
- TRUYỆN KÝ: Đề Thám (viết chung, 1935), Vua Hàm Nghi với việc kinh thành thất thủ (1935).
- PHÓNG SỰ: Tập án cái đình (1939), Lều chõng (phóng sự tiểu thuyết, báo Thời vụ, 1939-1940), Việc làng (báo Hà Nội tân văn, 1940-1941).
- DỊCH: Ngô Việt Xuân Thu (1929), Hoàng Hoa Cương (1929), Thơ và tình (thơ Trung Quốc, 1940), Đường thi (sưu tầm, chọn và dịch, 1940), Hoàng Lê nhất thống chí (tiểu thuyết lịch sử, 1942-1956), Suối thép (1946), Trước lửa chiến đấu (1946), Trời hửng (1946), Duyên máu (1946), Doãn Thanh Xuân (1946-1954).
- NGHIÊN CỨU, BIÊN SOẠN: Phê bình “Nho giáo” của Trần Trọng Kim (1940), Thi văn bình chú (tuyển chọn, giới thiệu, 1941), Văn học đời Lý (tập I) và Văn học đời Trần (tập II - trong bộ Việt Nam văn học, 1942), Lão Tử (biên soạn chung, 1942), Mặc Tử (biên soạn, 1942), Kinh dịch (chú giải, 1953).
- KỊCH: Nữ chiến sĩ Bùi Thị Phác (kịch bản chèo, 1951).