Nói đến Ngô Tất Tố, người ta không thể không nghĩ đến cái làng quê nghèo Việt Nam thời Pháp thuộc mà tiếng thúc dồn sưu hàng năm đe dọa người nông dân nhân như một tai họa khủng khiếp. Tiếng nói văn học của Ngô Tất Tố không chỉ là tiếng kêu cấp cứu đòi cơm áo cho những người nông dân cùng khổ mà còn là tiếng nói đanh thép, dõng dạc khẳng định nhân phẩm cao đẹp của họ trong bùn nhơ của xã hội thực dân phong kiến.
Và Tắt Đèn - một tác phẩm sâu sắc của Ngô Tất Tố, nói một cách khác thì Tắt Đèn là một bản cáo trạng đanh thép, kết án nghiêm khắc bọn thống trị áp bức, bóc lột nông dân đến tận xương tủy. Ngòi bút của Ngô Tất Tố đã dũng cảm bóc trần thực trạng đen tối, ngột ngạt của cuộc sống ở nông thôn, Ngô Tất Tố đã vẽ lên bức tranh chân thực về cuộc sống lầm than của những người nghèo khổ làm cho người đọc hết lòng xót thương, căm giận.
Thông tin tác giả Ngô Tất Tố

Nhà văn NGÔ TẤT TỐ (1893-1954) sinh tại làng Lộc Hà, tổng Hội Phụ, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (nay là Lộc Hà, xã Đông Anh, thành phố Hà Nội), mất tại Yên Thế, Bắc Giang (nay là thị trấn Phồn Xương, tỉnh Bắc Ninh). Ông thường xuyên có mặt trên các báo: An Nam tạp chí, Đông Pháp thời báo, Thần chung, Phổ thông, Đông Phương, Công dân, Hải Phòng tuần báo, Hà Nội tân văn, Thực nghiệp, Tương lai, Thời vụ, Con ong, Việt nữ, Tiểu thuyết thứ ba,… với nhiều bút danh: Lộc Hà, Phó Chi, Thôn Dân, Khẩu Khiết Nhi, Xứ Tố, Lộc Đình, Thục Điểu, Tuệ Nhỡn, Đạm Hiên, Thuyết Hải, Xuân Trào, Hy Cừ… Ông từng đảm nhiệm cương vị Chi hội trưởng Chi hội Văn nghệ Việt Bắc, Ủy viên Ban chấp hành Hội Văn nghệ Việt Nam khóa I...
Giải thưởng:
- Giải ba về dịch thuật (tác phẩm Trời hửng, Trước lửa chiến đấu), giải thưởng Văn nghệ 1951-1952 của Hội Văn nghệ Việt Nam.
- Giải khuyến khích (vở chèo Nữ chiến sĩ Bùi Thị Phác) giải thưởng Văn nghệ 1951-1952 của Hội Văn nghệ Việt Nam.
- Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật đợt I, năm 1996.
Các tác phẩm chính:
- TIỂU THUYẾT: Trong rừng Nho (1937), Tắt đèn (1937).
- TRUYỆN KÝ: Đề Thám (viết chung, 1935), Vua Hàm Nghi với việc kinh thành thất thủ (1935).
- PHÓNG SỰ: Tập án cái đình (1939), Lều chõng (phóng sự tiểu thuyết, báo Thời vụ, 1939-1940), Việc làng (báo Hà Nội tân văn, 1940-1941).
- DỊCH: Ngô Việt Xuân Thu (1929), Hoàng Hoa Cương (1929), Thơ và tình (thơ Trung Quốc, 1940), Đường thi (sưu tầm, chọn và dịch, 1940), Hoàng Lê nhất thống chí (tiểu thuyết lịch sử, 1942-1956), Suối thép (1946), Trước lửa chiến đấu (1946), Trời hửng (1946), Duyên máu (1946), Doãn Thanh Xuân (1946-1954).
- NGHIÊN CỨU, BIÊN SOẠN: Phê bình “Nho giáo” của Trần Trọng Kim (1940), Thi văn bình chú (tuyển chọn, giới thiệu, 1941), Văn học đời Lý (tập I) và Văn học đời Trần (tập II - trong bộ Việt Nam văn học, 1942), Lão Tử (biên soạn chung, 1942), Mặc Tử (biên soạn, 1942), Kinh dịch (chú giải, 1953).
- KỊCH: Nữ chiến sĩ Bùi Thị Phác (kịch bản chèo, 1951).